Nỗi sợ làm nên nhân cách nhân vật...

 



Đề bài:

Nhân vật Vũ Như Tô (Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng) không tiếc tính mạng, không nghĩ gì đến bản thân mình, trước sau ông chỉ sợ Cửu Trùng Đài không còn mãi đến muôn đời.

Nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân) không khuất phục cường quyền, không sợ hãi cái chết, trước sau ông chỉ sợ phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ.

Nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) từng chìm ngập trong men say, không sợ đời trôi qua vô nghĩa, không thiết người nghĩ gì về mình, nhưng rồi lại sợ tuổi già, sợ ốm đau, sợ cô độc, sợ không thể trở về cuộc đời lương thiện.

Phải chăng có những nỗi sợ làm nên vẻ đẹp nhân cách nhân vật?

Bằng những hiểu biết về nhân vật Vũ Như Tô, Huấn Cao, Chí Phèo, anh/chị hãy trả lời câu hỏi trên.


Bài làm


“Thanh nam châm hút mọi thế hệ vẫn là cái tốt đẹp, cao cao thượng, cái thuỷ chung”(Nguyễn Khải).Văn chương là bản hòa ca thiêng liêng muôn đời của nhân loại; là dòng máu nóng của người nghệ sĩ; là bức tranh tuyệt đẹp của tâm hồn thi nhân. Người ta bắt gặp một nhân cách đẹp, một hành động, một nhân vật cao cả trong các áng văn bất hủ. Như một giọng ca truyền tới muôn người, văn chương còn hàm chứa nỗi sợ của con người. Và phải chăng, có những nỗi sợ làm nên vẻ đẹp nhân cách của nhân vật, đưa nét đẹp ấy đạt tới đỉnh cao, khiến cho nhân vật trở nên bất tử?

“Nghệ thuật là sự mô phỏng tự nhiên” (Ruskin). Nỗi là một phản ứng tự nhiên của con người khi đối mặt với những mối nguy hiểm, đe dọa tới những giá trị quan trọng của bản thân. Điều đó có thể được thể hiện qua sự chần chừ, sự hoảng loạn, sự e ngại trước một tình huống nào đó. Nhắc tới nỗi sợ, người ta thường liên tưởng đến những nỗi sợ hèn mọn, mang ý nghĩa tiêu cực; đối lập với nhân cách cao cả. Ấy nhưng, đến với nỗi sợ của nhân vật Vũ Như Tô, Huấn Cao hay Chí Phèo, nỗi sợ lại mang một ý nghĩa rất khác. Mỗi nhân vật đều mang một nỗi lo riêng, ứng với những tính cách điển hình. Nhưng suy cho cùng, những nỗi sợ ấy lại xuất phát từ những tấm lòng cao cả, lương thiện. Qủa thực, có những nỗi sợ làm nên vẻ đẹp nhân cách của nhân vật; nó không khiến nhân vật trở nên hèn mọn mà khiến cho nhân vật được “bất tử hóa” trong lòng bạn đọc.

“Văn học và cuộc đời là hai vòng tròn đồng tâm, mà tâm điểm là con người” (Nguyễn Minh Châu). Đối tượng phản ánh của văn học là con người; là con người trong các mối quan hệ xã hội khác nhau. Với thiên chức trở thành “một thứ khí giới thanh cao, đắc lực” để “vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối, tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn.” (Thạch Lam), văn chương phải tác động được đến con người. Ấy nhưng, muốn làm thay đổi con người, hướng họ đến những điều tốt đẹp thì văn chương phải giúp con người nhận thức được con người, nhận thức được những điều đang xảy ra xung quanh mình. Thế nên, văn chương không thể khước từ việc thể hiện con người. Con người trong văn chương không được lý tưởng hóa để trở nên hoàn mĩ, không sợ bất cứ điều gì; nhân vật là hiện thân của một tầng lớp, một thế hệ chân thật nhất. Nhà văn không gọt dũa hiện thực để trở nên tốt đẹp, họ phản ánh những mặt tối của thế giới, của con người để con người nhận ra những giá trị đạo đức trong đó. Vậy nên, nhân vật tồn tại trong văn chương được quyền có nỗi sợ; đó là những nỗi sợ mất đi cái đẹp, cái tốt, cái thật. Chúng phản ánh một tấm lòng đẹp, biết hướng thiện, biết mưu cầu cái đẹp, bảo vệ cái thật. Như Nguyễn Minh Châu từng tâm niệm: “Nhà văn phải là người gắng đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người.” Nỗi sợ mất đi những điều tốt đẹp là hạt ngọc được giấu kĩ trong tâm hồn nhân vật. Vậy nên, khi nào những nỗi sợ ấy còn xuất phát từ những tấm lòng cao đẹp, thì nhà văn phải thể hiện nỗi sợ ấy đến với độc giả; phải  đem nỗi sợ đó làm vật liệu xây dựng nên vẻ đẹp nhân cách nhân vật.

          “Thiên chức của nhà văn cũng như những chức vụ cao quý khác là phải nâng đỡ những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng, thương yêu hơn” (Thạch Lam). Tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn cùng những người nghệ sĩ, Nguyễn Huy Tưởng viết nên “Vũ Như Tô” với nhân vật Vũ Như Tô như một đại diện cho những người cùng nghề. Vũ Như Tô được xây dựng là một người nghệ sĩ tài ba, một kiến trúc sư thiên tài. Tài năng của ông khiến cho Đan Thiềm phải cầu xin: “Tài kia không nên để uổng. Ông có mệnh hệ nào thì nước ta không còn ai tô điểm nữa.” Ấy nhưng Vũ Như Tô từ đầu chí cuối lại không tiếc tính mạng, không nghĩ gì đến bản thân mình, trước sau ông chỉ sợ Cửu Trùng Đài không còn mãi đến muôn đời. Lí tưởng cả đời của Vũ Như Tô là “đem hết tài ra xây cho nòi giống một tòa lâu đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công”. Cửu Trùng Đài là tâm huyết cả đời của Vũ Như Tô, là lí do tồn tại của ông. Vậy nên, khi đứng trước sự đe dọa tới tính mạng của quân nổi loạn, sự khuyên răn của Đan Thiềm, ông chỉ thốt lên “Đài Cửu Trùng chưa xong, tôi trốn đi đâu”. Vũ Như Tô không sợ mất đi tính mạng, không sợ sinh mệnh của mình sẽ chấm dứt; nhưng ông sợ Cửu Trùng Đài sẽ không còn nữa, không còn một tòa đài khiến “dân ta nghìn thu còn hãnh diện”. Cửu Trùng Đài là mục đích sống suốt đời của Vũ Như Tô, là hiện thân cho cái đẹp, là ước muốn được dâng hết đời mình cho nghệ thuật, cho cuộc đời. Nỗi sợ mất đi Cửu Trùng Đài là nỗi sợ xuất phát từ một tâm hồn đẹp, một con người cống hiến hết mình cho cuộc sống. Ở Vũ Như Tô không chỉ ánh lên vẻ đẹp của một tài năng siêu phàm, nét đẹp của một nghệ sĩ chân chính, có tài mà còn mang khát vọng nghệ thuật cao cả. Vậy nên, nỗi sợ Cửu Trùng Đài không còn mãi tới muôn đời là một nỗi sợ phải có ở một nhân cách cao đẹp như Vũ Như Tô; nó làm nên vẻ đẹp nhân cách của nhân vật khiến vẻ đẹp vốn có của nhân vật được đẩy lên tới đỉnh cao.

Nếu như Vũ Như Tô là hình tượng của những người nghệ sĩ-những người tìm kiếm, sáng tạo và hướng về cái đẹp; thì Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” là đại diện cho những người tài hoa, bất đắc chí trong thời buổi “Tây Tàu nhố nhăng”. Huấn Cao một đời không khuất phục cường quyền, không sợ hãi cái chết, trước sau ông chỉ sợ phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ. Huấn Cao với “tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” nhưng không phải ai ông cũng cho chữ. Chính ông từng nói “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Đối với thái độ biệt nhỡn của viên quản ngục, ông có ý sỉ nhục, “khinh bạc đến điều”. Ông không sợ cường quyền, cũng không sợ hãi cái chết. Từ đầu đến cuối, suốt cuộc đời Huấn Cao không e dè bất cứ điều gì nhưng lại thốt lên “thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” khi biết được sở thích cao quý và thành tâm xin chứ của viên quản ngục. Tại sao Huấn Cao “đến cái chết chém ông còn chẳng sợ” nhưng lại ân hận, sợ “phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”?  Bởi lẽ, nỗi sợ ấy của Huấn Cao xuất phát từ tấm lòng thiên lương, cao cả của ông. Một con người cả đời vì cái thiện với “những nét chữ vuông tươi tắn nói lên hoài bão tung hoành của một đời người”; ông chỉ “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài”. Nếu khí phách ngang tàng, bất khuất của Huấn Cao vẽ nên bức chân dung một anh hình “vô úy” thì thiên lương cao cả cho thấy một trái tim dễ mềm lòng trước những điều tốt đẹp. Huấn Cao là sự hòa quyện hoàn hảo giữa chất thép và chất tình, giữa khí phách và tấm lòng thiên lương nơi con người. Vậy nên, nỗi sợ của Huấn Cao đã làm nên vẻ đẹp nhân cách toàn vẹn cho nhân vật, đẩy nét đẹp của ông tới ngưỡng “bất tử”.

“Công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, để cho người đọc một bài học trông, nhìn và thưởng thức” (Thạch Lam). Chí Phèo (“Chí Phèo”- Nam Cao) từng chìm ngập trong men say, không sợ đời trôi qua vô nghĩa, không thiết người nghĩ gì về mình, nhưng rồi lại sợ tuổi già, sợ ốm đau, sợ cô độc, sợ không thể trở về cuộc đời lương thiện. Nỗi sợ ấy nơi Chí Phèo tồn tại như một hạt ngọc ẩn giấu bên trong một con người thối nát dưới đáy xã hội; thứ níu giữ hắn về với bản chất con người. Chí Phèo-“con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, hắn chuyên rạch mặt ăn vạ, trở thành nỗi chán ghét của dân làng Vũ Đại. Hắn ta suốt ngày triền miên trong cơn say, sống một cuộc đời vô nghĩa, một kiếp người-thú vừa đáng thương vừa đáng khinh. Ấy nhưng khi tỉnh rượu, hắn ta lại thấy “hắn đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời”. “hắn già mà vẫn còn cô độc”. Thật nực cười cho một kiếp người vô nghĩa, mất hết nhân hình lẫn nhân tính nhưng lại thấy sợ cô độc! Nghĩ về tương lai, hắn ta thấy “đói rét, ốm đau và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Hắn ta còn biết nghĩ tới ngày mai, tới tương lai sau nữa. Chí Phèo còn sợ không thể trở về với cuộc sống lương thiện. Trước bi kịch bị Thị Nở cự tuyệt, hắn thất vọng, đau đớn cố níu kéo lấy thị như là nỗ lực cuối cùng để níu Thị Nở ở lại, níu cánh cửa trở về với xã hội ở lại nhưng vô vọng, cánh cửa ấy đóng sập lại ngay trước mắt hắn. Thế nên, Chí Phèo “ôm mặt khóc rưng rức”. Lần đầu tiên trong tác phẩm, Chí Phèo khóc; đó là biểu hiện rõ ràng nhất của nhân tính, là miếng kính “biến hình vũ trụ” khẳng định bản chất tốt đẹp của con người. Sự vật vã, đau đớn của Chí Phèo là kết quả tất yếu bởi hắn đã thấm thía nỗi đau khôn cùng khi nhận thức bi kịch của đời mình- bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Nỗi sợ nơi Chí Phèo là nỗi sợ của một con người có nhân tính; sợ không được sống như con người, sợ không được lương thiện. Tất cả, tất cả nỗi sợ của Chí đã đem Chí từ một “con quỷ dữ” đáng khinh trở thành một con người tội nghiệp, dù bị chà đạp, tha hóa nhưng vẫn giữ được tấm lòng lương thiện. Vậy nên, có những nỗi sợ làm nên vẻ đẹp nhân cách nhân vật.

Bắt gặp ở cả ba nhân vật Vũ Như Tô, Huấn Cao và Chí Phèo là những nỗi sợ rất riêng. Nhưng những nỗi sợ ấy đều phản ánh một cái chung nhất, ấy là vẻ đẹp nhân cách của con người. Nhà văn phải tìm ra hạt ngọc ẩn giấu bên trong từng lớp người, biến những nỗi sợ cao cả thành mảnh ghép cuối cùng hoàn thiện nhân vật thì nhân vật của anh ta mới có thể chân thật và trọn vẹn. Anh ta không được cắt ghép những mảnh vá đẹp nhất của loài người và tạo nên hình tượng nghệ thuật mà phải phản ánh toàn bộ con người. Con người cao đẹp và những nỗi sợ cao cả, anh ta phải đem nó thành chất liệu để viết nên tác phẩm. Có như thế, tác phẩm của anh ta mới có thể “vượt lên bên trên tất cả bờ cõi giới hạn”, trở thành “một tác phẩm chung cho cả loài người”(Nam Cao). Một nhân vật với sức mạnh vô song, một trí tuệ siêu việt nhưng không biết sợ hãi khi mất đi những giá trị tốt đẹp sẽ trở thành một con người vô cảm và đáng sợ. Nhân vật trong tác phẩm phải tồn tại như một chỉnh thể hoàn mĩ của cái đẹp và cái nhân đạo. Có như thế độc giả mới có thể đồng cảm, soi bóng mình trong nhân vật; học được những giá trị nhân văn cao cả từ tác phẩm. Nhưng, để có thể truyền tải thông điệp của mình trọn vẹn; để vẻ đẹp nhân cách của nhân vật được thể hiện một cách uyển chuyển thì nhà văn với sự tinh tế của mình phải đem chúng gói vào lớp bọc đẹp đẽ của nghệ thuật. Một tác phẩm như thế mới có thể “nằm ngoài định luật của sự băng hoại” (Sedrin). Nhà văn và tác phẩm có hoàn thành thiên chức của mình hay không còn nằm ở độc giả. Độc giả phải biết thấu hiểu, biết đặt mình vào câu chuyện trong tác phẩm thì ý nghĩa nhân văn mới có thể neo đậu nơi trái tim của họ. Họ phải suy ngẫm, phải trăn trở, phải đồng cảm với những nỗi sợ cao cả thì tâm hồn của họ mới có thể bị lay động; để mà tác động đến thế giới ngoài kia.

“Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” (Tố Hữu). Nhà văn với thiên chức bắt một nhịp cầu kết nối giữa trái tim bạn đọc đến với thế giới chân-thiện-mỹ phải ý thức được giá trị tác phẩm, nhân vật do anh xây dựng. Anh ta không dựng nên một thế giới xa vời hiện thực. Anh ta tìm ra vẻ đẹp nên hiện thực tăm tối; anh ta rót vào đấy dòng máu nóng của mình, thổi hơi thở của mình vào tác phẩm để tác phẩm của anh ta luôn đập nhịp đập nóng hổi nơi trái tim bạn đọc. Có những nỗi sợ do anh ta viết nên cao cả đến lạ thường, chúng làm nên vẻ đẹp nhân cách của nhân vật!

          Nguyễn Ngọc Linh Chi- 11.5

Đăng nhận xét

Please Select Embedded Mode To Show The Comment System.*

Mới hơn Cũ hơn