Trong đại dịch, liệu văn học có yếu đuối và cô độc?

 



Đề bài:

Nhà văn Diêm Liên Khoa cho rằng: “Ở điểm xung động giữa sự xa mờ của văn học với sự bức thiết cận kề của nạn dịch, chúng ta lại một lần nữa nhận ra sự yếu đuối và cô độc của văn học. Nó chẳng những không thể biến thành khẩu trang để đưa đến vùng dịch mà cũng không thể trở thành một bộ quần áo bảo hộ y tế. Lúc cần ăn uống, nó không phải sữa và bánh mì, khi cần rau cỏ, nó không phải là củ cải và cần tây. Thậm chí, khi mọi người sợ hãi, lo lắng, bất an, nó cũng không thể trở thành một viên giả dược”                   

Theo anh (chị), trong đại dịch văn học có “yếu đuối và cô độc”? Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh (chị).

 

Bài làm

Những đóa hồng tro, yêu kiều và ngát hương, song chẳng thể thoát khỏi nỗi phai tàn trước bàn tay thời gian. Trong thần thoại Hy Lạp, chàng Edip tự chọt mù đôi mắt mình, phải chăng vì chẳng thể thoát khỏi sự rung rủi của định mệnh?

          Cuộc đời này, có lẽ là những niềm bất lực...

Và văn chương cũng mang nỗi bất lực của riêng mình. Nhà văn Diêm Liên Khoa không né tránh sự thật ấy: “Ở điểm xung động giữa sự xa mờ của văn học với sự bức thiết cận kề của nạn dịch, chúng ta lại một lần nữa nhận ra sự yếu đuối và cô độc của văn học. Nó chẳng những không thể biến thành khẩu trang để đưa đến vùng dịch mà cũng không thể trở thành một bộ quần áo bảo hộ y tế. Lúc cần ăn uống, nó không phải sữa và bánh mì, khi cần rau cỏ, nó không phải là củ cải và cần tây. Thậm chí, khi mọi người sợ hãi, lo lắng, bất an, nó cũng không thể trở thành một viên giả dược”. Không riêng gì những người cầm bút mà tất cả chúng ta đều cảm thấy bất lực. Đại dịch là nỗi bất lực lớn của hành tinh!

          Đại dịch đến và lây lan với tốc độ chóng mặt, khi con người còn vô tư trong những bữa tiệc, những cuộc chuyện trò. Vì thế mà khẩu trang hay quần áo bảo hộ, lương thực hay thuốc đều không được chuẩn bị kĩ lưỡng, Covid bùng nổ và con người khủng hoảng trong sự khan hiếm đồ dùng. Liệu con người có còn tâm trạng để lo cho cơn đói của tâm hồn khi toàn bộ sức lực và tiền bạc đều đổ vào cuộc chiến giành lại sự sống? Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nhận định “Cuộc chiến này còn rất dài”, dịch càng kéo dài bao lâu thì văn chương càng bất lực bấy nhiêu. Và các nhà văn có thong thả đặt bút xuống, khi ngoài kia nhân loại gào thét trong vô vọng mà anh chẳng giúp được gì?

          Muytxe tâm tình rằng: “Lời tuyệt vọng là lời ca hay nhất”, nhưng giờ đây, lời tuyệt vọng có còn là lời ca, hay chỉ là sự bế tắc, vô lối thoát?

          Và sự bất lực không dừng lại ở đó mà còn diễn ra ở nghệ thuật nói chung. Giữa bức họa “Mona Lisa” của Da Vinci và mẩu bánh mì, con người sẽ chọn bánh mì vì nó hữu dụng hơn trong hoàn cảnh này. Những công trình nghệ thuật mà lĩnh vực kiến trúc tạo nên dần vô nghĩa, khi con người cần xây nhanh những bệnh viện để kịp với số bệnh nhân tăng lên. Âm nhạc và điện ảnh cũng mang nỗi bất lực khi các nhà hát, rạp phim buộc phải đóng cửa.

          Phải chăng Covid là lời báo hiệu cho sự suy tàn của nghệ thuật?

          Tôi chợt nhớ đến một khung cảnh mình đã xem trên tivi, khi nước Ý trở thành tâm dịch thế giới và buộc phải thực hiện chặt chẽ giãn cách xã hội. Người dân trong đêm tối, họ đứng trên lan can nhà mình và cùng nhau hát ca, gảy lên tiếng đàn làm dịu êm nhân gian. Trong khoảnh khắc cái chết có thể lướt qua và cướp đi mạng sống của bất kỳ người nào, con người vẫn thắp lên niềm tin bằng những lời ca. Và nghệ thuật là những que diêm diệu kỳ, phá tan những khoảng cách – lớp khẩu trang để con người gần nhau hơn. Văn chương, có lẽ như Thanh Thảo từng nói, là “đôi nạn” giúp người tàn tật “đứng dậy”, bước đến với mọi người. Nếu chiếc khẩu trang ngăn chặn sự lây nhiễm virus đến con người thì những quyển sách ngăn chặn sự đứt gãy quan hệ, mất kết nối giữa cá nhân và cộng đồng. Tôi nghĩ đó cũng là sứ mệnh của người cầm bút, như Lỗ Tấn trăn trở trước cái chết của AQ, Balzac đau đớn khi viết về cái chết lão Goriot, những cái chết diễn ra trong ánh mắt bàng quan, vô cảm của xã hội. Nam Cao khao khát viết nên những tác phẩm để người “gần người hơn”, mà đây là điều duy nhất chỉ có văn chương mới đủ sức mạnh thực hiện ngay lúc này.

          Với những ai là bệnh nhân Covid, ta cảm thấy cô đơn trên con đường chiến đấu với tử thần. Với những ai may mắn khỏe mạnh, ta cũng không thoát khỏi nỗi cô đơn khi quẩn quanh trong ngôi nhà của mình. Chúng ta – một nhân loại cô đơn sống trong thời đại cô đơn. Với Chí Phèo là nỗi cô đơn khi bị coi là “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại, những nhân vật trong “Rừng Na Uy” gắn lên mình chiếc mặt nạ để che giấu niềm cô đơn gặm nhấm trong lòng. Còn “Trăm năm cô đơn” của nhà văn Marquez, những bóng người mang trong mình dòng máu Buendia hiện ra đầy đơn độc. Những con người ấy bơ vơ ngay cả khi ở cạnh bên gia đình, những người chồng, người vợ thân yêu của mình. Kết thúc tác phẩm, ngôi làng Macondo biến mất vĩnh viễn và nhà văn trăn trở: làm thế nào để dân làng ấy được “tái sinh” lần thứ hai trên mặt đất này? Chỉ có một chìa khóa giải thoát được vòng vây cô đơn ấy, đó chính là tình yêu. Ấy là thông điệp mà Marquez gửi gắm đến độc giả từ thế kỉ trước, song vẫn vẹn nguyên giá trị ở thời đại chúng ta, thời đại dịch bệnh làm con người thấy đơn độc hơn. Và ta thấy nồng ấm biết bao trước tình người giữa cậu bé Rémy và cụ Vitalis (Không gia đình), những kiếp người sống trong đói khổ vẫn bao bọc, san sẻ lẫn nhau trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, “Nhà mẹ Lê” của nhà văn Thạch Lam. Chúng ta thật cô đơn, vì thế mà chúng ta cần có nhau và sống tựa vào nhau. Chính văn chương đã gỡ bỏ những then cài mà nhẹ nhàng bước vào lòng ta, trao cho tôi, cho bạn, những con người để cùng chuyện trò. Để thấy rằng không gì có thể ngăn cách con người đến được với nhau!

          Tôi nghĩ một phần nào đó trong chúng ta, những người mắc phải Covid không tránh khỏi nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần. Trước tình cảnh đó, văn chương là sự nâng đỡ cho những kẻ “cùng đường tuyệt lộ”, để con người không tự giày vò mình trong tuyệt vọng bi ai. Những trang sách giúp ta có thêm niềm tin rằng “Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại” (Ernest Hemingway). Văn chương làm tươi mát tâm hồn ta bằng những vẻ đẹp, để một thoáng thấy lòng mình hồn nhiên như trẻ thơ. Nó gợi lên trong ta cái cảm giác man man như đứng trước “một bến đò gió nổi” (Lê Đạt), khiến mỗi người phải ngỡ ngàng mà thừa nhận rằng: cuộc sống vẫn còn đó bao điều tốt đẹp! Và dù có phải chết, những trang sách giúp ta sống theo quan niệm của người Nhật, rằng chết không có nghĩa là tan biến, là sợ hãi. Chết là để cho con người vĩnh viễn đi vào cõi bất tử, để sống mãi cùng cái đẹp. Khi con người chưa thể khẳng định loại vaccine hữu hiệu nhất, khi sự sống mong manh như sương khói, khi tất cả chúng ta đồng thanh nói “tuyệt vọng”, văn chương lại chọn một cách nói khác. Đó là cách mà nhân vật Scarlett trong “Cuốn theo chiều gió” từng nói: “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới”.

          Hãy nhìn kìa, mặt trời đang lên...

          Tôi tình cờ đọc “Ngàn mặt trời rực rỡ” của Khaled Hosseini vào ngày thế giới tuyên bố đã có một triệu người nhiễm Covid qua đời. Trong lòng tràn ngập niềm lo âu lẫn xót xa, nhưng quyển sách đã soi chiếu vào tôi thứ ánh sáng đầy hy vọng. Sinh ra là một “harami” – “đứa con hoang”, Mariam đáng thương lớn lên trong nỗi hận thù của mẹ. Tôi nhớ mẹ Mariam đã dạy cô rằng: “ngón tay buộc tội của người đàn ông luôn trỏ vào phụ nữ”. Ấy là thực trạng bất bình đẳng giới ở Afghanistan, người phụ nữ luôn phải cam chịu trước sự kiểm soát của đàn ông. Thậm chí, phụ nữ bị đối xử như loài vật phục tùng mệnh lệnh, như cách mà Rasheed bắt Mariam phải nhai những viên đá trong miệng đến mức miệng cô bê bết máu. Đau đớn. Tuyệt vọng. Nhưng cũng như tên tác phẩm, Mariam đã sống như ánh mặt trời rực rỡ, tỏa tia nắng ấm áp cho đời. Cô giết chết chồng để cứu sống Laila – “đóa hoa nhỏ” mà Rasheed hết lòng nâng niu, người đã hạ sinh cho chồng cô đứa con trai – điều Mariam không làm được.  

                    Có lẽ, cuộc đời Mariam chưa bao giờ hạnh phúc trọn vẹn...

Vì cuối cùng, Mariam chấp nhận án tử hình của một pháp luật thiên về quyền lợi người đàn ông. Nhưng chính giây phút lìa xa cuộc đời mãi mãi cũng là lần cuối cùng “Mariam làm như người ta bảo”. Cái chết đã phóng sinh một Mariam tự do, để cô mãi sống trong những người phụ nữ Afghanistan, trong ngàn ánh mặt trời của ngày mai tươi sáng.

          Tựa những áng mây lãng đãng trôi, văn chương nhẹ nhàng ru êm lòng tôi một thoáng bình yên giữa bao bộn bề cõi phù sinh. Nhưng văn chương còn giúp tôi vỡ ra những lẽ sống ở đời. Những vần thơ haiku tự bao giờ đã tràn vào tâm thức ta, làm rung động những cảm xúc đáy lòng mình:

                                                  “Tên trộm đi rồi

                                                  Còn bên cửa sổ

                                                  Một vầng trăng soi”

                                                                      (Ryokan)

Khi tất cả chỉ còn lại là những hoang tàn hiu quạnh, liệu con người có thấy bất lực? Thế nhưng, trong khoảnh khắc nỗi tuyệt vọng dâng trào, vẫn còn bên cửa sổ ấy là sự hiện hữu của cái đẹp. Thi nhân trong giây phút ấy khát khao vượt lên thực tại nghiệt ngã, để tìm đến vẻ đẹp sáng trong của vầng trăng vằng vặc giữa bầu trời đêm. Tôi nhớ Albert Camus từng nói: cái đẹp cho ta giây phút “thoáng nhìn cõi vĩnh hằng mà chúng ta muốn vươn tay ra toàn bộ thời gian”. Cái vĩnh hằng nơi câu thơ chính là ánh trăng hiện ra khiến cho cái hữu hạn của đời người, của kiếp người phải thao thức, mê say. Và dường như, con người buông bỏ mọi bất hạnh nhân sinh để cả thể xác lẫn tâm hồn mình được sống tận hiến cho cái đẹp cao cả. Đại dịch, tựa “tên trộm” đã cướp đi khỏi chúng ta sự bình yên. Nhưng nó cũng để lại trong chúng ta, những khoảng lặng để tâm hồn mình thư thả, để mở tung cửa sổ mà đón vào lòng vầng trăng sáng, những vẻ đẹp gần gũi ta quên lãng tự lâu.

          Covid đi qua để lại cho nhân loại những gì? Không riêng những tổn thất về mạng người hay vật chất, nó là một phép thử để ta thấy bản chất con người. Những kẻ tung tin giả khiến dư luận đầy hoang mang, hay đầu tư tích trữ hàng hóa để thừa dịp kiếm lời. Và văn chương một lần nữa làm nên những điều ý nghĩa, đó là sự níu giữ thiên lương trong mỗi người. Nếu những chiếc khẩu trang khiến con người ta nảy sinh lòng tham, những quyển sách khuyên con người sống hãy biết đủ. Nếu những mẩu bánh mì, những gói mì tôm là tâm điểm mà con người tranh giành nhau, chen lấn nhau để mua bằng được, văn chương nhắn nhủ mỗi chúng ta chớ đi theo đám đông mà hãy tin vào trực giác của mình. Với những kẻ xấu, văn chương không cho phép con người khoan nhượng, dung thứ nó. Cần phải đấu tranh, như chàng Hamlet của Shakespeare một mình chống lại cả triều đình độc ác. Cần phải thức tỉnh con người thoát khỏi cơn mộng mị, như cách McMurphy đã đánh thức nhân tính trong những kẻ tâm thần trá hình (Bay trên tổ chim cúc cu). Mỗi người hãy gìn giữ và bảo vệ sự thiện lương trong mình khỏi phần “con” thấp bé, để tôn vinh phần “người” đáng quý. Raskolnikov cảm thấy day dứt vì giết người nên quyết định đi đầu thú  (Tội ác và trừng phạt), Thành thấy lo sợ vì lấy trộm chiếc ví của người bạn thân - Bân (Sợi tóc) hay người họa sĩ đầy mặc cảm lương tâm vì lỡ hẹn với người lính năm xưa (Bức tranh). Quả thật, văn chương “thức tỉnh những lương tri đang ngủ” (Evtusenko), cho con người một kẽ hở trong nhịp sống vội vã để ngắm nhìn lại chính bản thân mình.

          Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh chỉ ra bản chất tẻ nhạt của cuộc đời khi không có văn chương. Rằng thiếu đi những áng thơ, cuộc sống “Không nỗi buồn không niềm vui kinh ngạc”. Vậy con người có thể sống mà không có văn chương?

          Diêm Liên Khoa thú nhận sự cô độc và bất lực của văn học, nhưng tôi tự hỏi: khi Covid qua đi, khi đời sống con người trở về với những mệt mỏi áp lực, những chiếc khẩu trang lúc ấy liệu có thể trở thành sách mang đến sự cởi giải cho tâm hồn người? Khi ấy, dù có bao nhiêu mẩu bánh mì cũng không thể lấp đầy cơn đói cồn cào nơi trái tim ta. Do đó, tôi nghĩ các nhà văn, những kẻ có đôi mắt đi trước thời đại, hơn ai hết cần ý thức giá trị bền lâu của văn chương chứ không phải là sự bất lực nhất thời. Văn chương không bao giờ bất lực khi anh – người cầm bút luôn tràn trề những nhiệt huyết, khát khao làm nên một tác phẩm “vượt lên mọi bờ cõi và giới hạn” (Nam Cao). Và hỡi loài người, hãy tin vào văn chương, tin vào những hy vọng tốt đẹp của cuộc sống. Đó sẽ là lúc chúng ta thoát khỏi niềm sợ hãi, âu lo tầm thường để chạm tay đến những giá trị thiêng liêng vĩnh cửu.

                                                  “Nếu tôi không cháy lên

                                                  Nếu anh không cháy lên

                                                  Nếu chúng ta không cháy lên

                                                  Thì làm sao bóng tối trở thành ánh sáng?”

(Nazim Hikmet)

Văn chương không xử phạt con người bằng tiền bạc, nó thức tỉnh con người bằng tiếng gọi của lương tâm, trong nỗi hổ thẹn của chính mình. Như cách Nazim Hikmet đã đánh vào phần sâu thẳm nhất của mỗi người, rằng nếu chúng ta không cháy lên, thì bóng tối vẫn sẽ mãi ở đó.

                    Và Covid cũng như thế...

Nếu tôi góp sức, anh góp sức, cả nhân loại cùng chung tay nỗ lực, không gì có thể ngăn cản chúng ta chiến thắng Covid.

Khi ấy         

                                        văn chương

                                                                      không còn bất lực!

 

NGUYỄN NGUYÊN THU HÀ

LỚP 12 CHUYÊN VĂN

TRƯỜNG TRUNG HỌC THỰC HÀNH ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM

NĂM HỌC 2020 - 2021

Đăng nhận xét

Please Select Embedded Mode To Show The Comment System.*

Mới hơn Cũ hơn